Việc chọn "một mai, một cuốc" là việc tự 'đào xới cày cuốc' lo cuộc sống, không sống vào bổng lộc triều đình ! Còn "một cần câu" là điển về Lã Vọng, một công thần nhà Chu: suốt đời đến 80 tuổi cứ ngồi bên giòng sông Vị thủy , buông lưỡi câu thẳng , chẳng có mồi thơm; chờ thời phù tá Văn Vương và Vũ Vương diệt Thương Trụ lập nên triều đại nhà Chu. Một mớ bồng bông câu hỏi cứ lởn quởn trong đầu: Một số điểm cần chú ý khi vẽ Include cho Use Case. nếu cuốc xe đó anh em chấm họ maximum là 5 sao.// Vậy thì anh em sẽ vẽ Use Case Diagram chỗ đó như sau. Rốt cuộc tôi đi đến kết luận rằng chẳng cần phải cày cuốc, chẳng cần bón phân, chẳng cần ủ phân vi sinh, cũng chẳng phải dùng tới thuốc diệt côn trùng. TV nhiều lần, nhưng chẳng thấy ai chú ý tới cho lắm. Bây giờ đột nhiên nó lại biến thành một câu chuyện Rồi chú đọc câu kệ: "Văn chung ngọa bất khởi Hộ pháp thiện thần sân; Hiện thế duyên phước bạc Lai thế thọ xà thân". Nghe mà muốn ớn lạnh xương sống. Không ai dám trùm chăn mà ngủ thêm nữa, khi nghĩ đến mấy câu kệ ấy! Cả chùa dậy lúc bốn giờ sáng mà trong khi tôi hoặc chú Mãn nấu trà thì chú Dương đánh chuông, chú Giải lo việc hương dâng. Bạn đang xem: Một mai một cuốc một cần câu. Ta dở hơi, ta tra cứu địa điểm vắng tanh, Người khôn bạn cho chốn lao xao.". (Nhàn - Nguyễn Bỉnh Khiêm) Nội dung chính của bốn câu thơ dưới đây: "Thu ăn uống măng trúc, đông ăn uống giá. Xuân tắm rửa hồ nước sen, hạ tắm rửa ao. Phú quý nở hoa một đoá hồng. 64. Ngày xuân xanh khe khắc vô tình qua Nhưng lòng xuân muôn thuở vẫn không già. 65. Xuân đa tiết khách Hạ bảo bình an Thu tấn vinh hoa Đông nghinh bá phúc. 66. Mai gọi xuân về lan chịu hạ Cúc tin thu tới trúc nhờn đông. 67. Sắc cầm hảo hiệp câu mai bGRAPF. Home » Lớp 10 » Phân tích vẻ đẹp của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn "Một mai, một cuốc, một cần câu, ... Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao." MỞ BÀI Giới thiệu về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và tác phẩm như - Hiệu là Bạch Vân cư sĩ, xuất thân trong gia đình trí thức Nho giáo. Ông thông minh học giỏi nhưng đến năm 45 tuổi mới đi thi dưới thời triều Mạc. - Làm quan trong triều, một lần ông dâng sớ xin chém lộng thần mà không được, ông đành treo mũ xin về quê nhà => lí do mà Nguyễn Bỉnh Khiêm ở ẩn - Ông tiêu biểu cho tầng lớp trí thức thế kỷ XVI, không cộng tác với kẻ cầm quyền, chọn con đường ẩn dật để giữ gìn khí tiết. - Thơ văn ông có chủ đề lớn là hình ảnh về phê phán xã hội phong kiến, yêu nước thương dân, thế thái nhân tình hiểu là thói đời tình người, đạo lý cuộc sống, nhàn dật triết lý. - Bài thơ Nhàn là bài thơ tiêu biểu cho phong cách ấy, qua cảm nhận ta sẽ thấy thấu đáo hơn về cuộc sống và nhân cách đẹp của Nguyễn Bỉnh Khiêm. THÂN BÀI Hình ảnh một lão nông cùng với những dụng cụ lao động hiện ra ở câu thơ đề đầu tiên “Một mai, một cuốc, một cần câu," Tác giả sử dụng số từ để liệt kê những công cụ lao động một mai, một cuốc, một cần câu => chúng có nghĩa đơn lẻ, ta hiểu là một; là những dụng cụ phổ biến của người dân Việt. Mai dụng cụ có lưỡi sắt nặng, rộng ngang dùng để đào đất, cuốc nông cụ để xới đất, cần câu dụng cụ có buộc sơi dây để câu cá “Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.” miêu tả trạng thái của Nguyễn Bỉnh Khiêm, lặng lẽ mà tận hưởng cuộc sống hiện tại => ý thức kiên định với lối sống đã chọn, lối sống không vướng tục trần, chất phác và nguyên sơ. Hai câu thực Lựa chọn cuộc sống thanh đạm, tự nguyện hòa nhập với thiên nhiên, vì ông không muốn bon chen với sự ganh đua người đời => nhân cách cao đẹp “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao.” Dại , khôn được nhắc đến. “Ta dại, người khôn” Nguyễn Bỉnh Khiêm có ý thích thú, khen mình mà chê người. người đời tranh nhau và phê phán nhau ở chữ dại khôn => triết lí sống, khẳng định sự hơn người của Nguyễn Bỉnh Khiêm “nơi vắng vẻ” Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng đây mới là nơi khiến tâm hồn ta tĩnh tâm cảm nhận cuộc sống, còn “chốn lao xao” là nơi làm tâm hồn ta bị khuấy động bị cuốn theo vòng xoay danh lợi => sâu sắc và tinh tế Hai câu luận Cuộc sống đạm bạc “Thu ăn măng trúc đông ăn giá, xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”. Những thức ăn quê mùa dân dã măng, trúc, giá đỗ. => là tự mình làm ra, cây nhà lá vườn gần gũi. Chuyện sinh hoạt “tắm hồ sen, hạ tắm ao” mùa hạ sen ở hồ nở nhiều, mùa hạ thì đồng sen có lẽ đã tàn => chỗ có sẵn không phải nhọc công tìm kiếm nói lên chất đơn sơ giản dị Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hai câu kết Nguyễn Bỉnh Khiêm tỉnh táo, xem thường danh lợi phú quý “Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.” - Trong hơi men nồng nàn cùng sự bình yên của làng quê nhà thơ nhận ra phú quý quả thật chỉ là một giấc chiêm bao. Nó cũng sẽ mau chóng tan thành mây khói. Nghệ thuật - Nhịp điệu những câu thơ đầu tạo cảm giác thư thái, ung dung. - sử dụng phép đối dại > nổi bật sâu sắc - liên tưởng so sánh “phú quý” và “chiêm bao” => nhận thức phú quý rồi cũng chỉ là thứ phù du không đáng bận tâm. KẾT BÀI Nhàn là một lời tâm sự thâm trầm và sâu sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm về quan niệm sống. bài thơ vẻn vẹn 8 câu nhưng cảm xúc không hề bị bó hẹp, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp về cách sống, cách suy nghĩ, nhận thức và nhân cách cao cả của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đề 1 Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi “ Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn, người đến chốn lao xao Thu ăn năng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.” Nhàn, Trang 128, Ngữ văn 10, Tập I,NXBGD, 2006 1/ Văn bản trên có chủ đề là gì? 2/ Xác định nhịp thơ ở câu thơ 1? Nêu hiệu quả nghệ thuật của nhịp thơ đó? 3/ Xác định phép đối trong câu thơ 3 và 4? Nêu hiệu quả nghệ thuật của phép đối đó? 4/ Viết đoạn văn ngắn 5 đến 7 dòng bày tỏ suy nghĩ về lối sống đẹp trong cuộc sống hôm nay từ văn bản trên. Trả lời 1/ Văn bản trên có chủ đề Bài thơ Nhàn thể hiện được một cách sâu sắc cái thú và ý nghĩa triết lí trong lối sống nhà dật mà tác giả đã lựa chọn. Đó là quan niệm sống hoà hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi. 2/ Nhịp thơ ở câu thơ 1 là 2/2/3. Hiệu quả nghệ thuật của nhịp thơ đó cho thấy cái chủ động, sẵn sàng, thanh thản của cụ Trạng Trình với cuộc sống điền dã và còn như có chút ngông ngạo trước thói đời. 3/Phép đối trong câu thơ 3 và 4 Ta dại-Người khôn ; tìm-đến ; nơi vắng vẻ-chốn lao xao Hiệu quả nghệ thuật của phép đối đó vừa để khẳng định sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả- chọn lối sống tĩnh tại, an nhàn, không trang giành, vừa thể hiện sắc thái trào lộng, mỉa mai đối với cách sống ham hố danh vọng, phú quý 4/ Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu -Hình thức đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp. Hành văn trong sáng, cảm xúc chân thành ; -Nội dung từ quan niệm, cách xử thế trong lối sống Nhàn của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, thí sinh suy nghĩ về lối sống đẹp trong cuộc sống hôm nay. Đó là lối sống hoà hợp, gắn bó với thiên nhiên. Đó là sống và cống hiến, tránh xa những mưu toan, bon chen, giành giật lợi danh. Phê phán lối sống ích kỉ, sống vì tiền tài, danh vọng mà trở nên suy thoái đạo đức. Rút ra bài học nhận thức và hành động. Đề 2 Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi … Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có học vấn uyên thâm. Vua Mạc cũng như các chúa Trịnh, Nguyễn có việc hệ trọng đều hỏi ý kiến ông và ông đều có cách mách bảo kín đáo, nhằm hạn chế chiến tranh, chết chóc. Mặc dù về ở ẩn, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn tham vấn cho triều đình nhà Mạc. Ông được phong tước Trịnh Tuyền hầu, Trình Quốc công nên có tên gọi là Trạng Trình. Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn của dân tộc. Ông để lại tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập khoảng 700 bài và tập thơ chữ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi khoảng trên 170 bài. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm chất triết lí, giáo huấn, ngợi ca chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, đồng thời phê phán những điều xấu xa trong xã hội. Nhàn là bài thơ Nôm trong Bạch Vân quốc ngữ thi… Trích Nhàn, Trang 128, Ngữ văn 10, Tập I,NXBGD, 2006 1/ Nêu những ý chính của văn bản trên . 2/ Văn bản trên gồm mấy đoạn ? Xác định câu chủ đề của mỗi đoạn ? Mỗi đoạn được triển khai bằng thao tác lập luận diễn dịch hay quy nạp ? 3/ Thế nào là người có học vấn uyên thâm ? 4/ Viết đoạn văn ngắn 5 đến 7 dòng trả lời câu hỏi bản thân em sẽ làm gì để có học vấn uyên thâm ? Trả lời 1/ Những ý chính của văn bản trên Đánh giá về học vấn và sự nghiệp văn học của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Giới thiệu xuất xứ bài thơ Nhàn. 2/ Văn bản trên gồm 02 đoạn. Xác định câu chủ đề của mỗi đoạn Đoạn 1 Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có học vấn uyên thâm Đoạn 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn của dân tộc. Mỗi đoạn được triển khai bằng thao tác lập luận diễn dịch. 3/Người có học vấn uyên thâm là người có hiểu biết sâu rộng, có kiến thức sâu sắc về một lĩnh vực nào đó. 4/ Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu -Hình thức đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp. Hành văn trong sáng, lập luận chặt chẽ ; -Nội dung từ tài năng và trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, thí sinh trả lời câu hỏi bản thân em sẽ làm gì để có học vấn uyên thâm ? Cụ thể siêng năng, chăm chỉ, cần cù, sáng tạo trong học tập và rèn luyện. Có phương pháp học khoa học, tránh học vẹt, máy móc. Gắn học đi đôi với hành. Đam mê đọc sách. Có tinh thần vượt khó… đề đọc hiểu, nhàn Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao. Thu ăn năng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao. Nhàn- Nguyễn Bỉnh Khiêm, Theo Ngữ Văn 10, tập 1, tr 128, NXBGD, năm 2015 Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên. Câu 2. Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao. Câu 3. Bức tranh thôn quê hiện lên như thế nào trong cách nhìn của tác giả qua hai câu thơ? Thu ăn năng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Câu 4. Em hiểu như thế nào về lối sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ? Trong năm Quang Thái đời nhà Trần, người ở Hóa Châu tên là Từ Thức, vì có phụ ẩm được bổ làm tri huyện Tiên Du. Bên cạnh huyện có một tòa chùa danh tiếng, trong chùa trồng một cây mẫu đơn, đến kỳ hoa nở thì người các nơi đến xem đông rộn rịp, thành một đảm hội xem hoa tưng bừng lắm. Tháng Hai năm Binh Tỷ niên hiệu Quang Thái thứ chín 1396 đời nhà Trần, người ta thấy có cô con gái, tuổi độ mười sáu, phấn son điểm phớt, nhan sắc xinh đẹp tuyệt vời, đến hội ấy xem hoa. Cô gái vin một cành hoa,...Đọc tiếpTrong năm Quang Thái đời nhà Trần, người ở Hóa Châu tên là Từ Thức, vì có phụ ẩm được bổ làm tri huyện Tiên Du. Bên cạnh huyện có một tòa chùa danh tiếng, trong chùa trồng một cây mẫu đơn, đến kỳ hoa nở thì người các nơi đến xem đông rộn rịp, thành một đảm hội xem hoa tưng bừng lắm. Tháng Hai năm Binh Tỷ niên hiệu Quang Thái thứ chín 1396 đời nhà Trần, người ta thấy có cô con gái, tuổi độ mười sáu, phấn son điểm phớt, nhan sắc xinh đẹp tuyệt vời, đến hội ấy xem hoa. Cô gái vin một cành hoa, không may cảnh giòn mà gãy khắc, bị người coi hoa bắt giữ lại, ngày đã sắp tối vẫn không ai đến nhận. Từ Thức cũng có mặt ở đám hội, thấy vậy động lòng thương, nhân cởi tấm ảo cừu gấm trắng, đưa vào tăng phòng để chuộc lỗi cho người con gái ấy. Mọi người đều khen quan huyện là một người hiền đức. Song Từ Thức vốn tinh hay rượu, thích đàn, ham thơ, mến cảnh, việc số sách bỏ ăn cả lại thường bị quan trên quở trách rằng - Thân phụ thầy làm đến đại thần mà thầy không làm nổi một chức tri huyện hay sao! Từ than rằng - Ta không thể vì số lương năm đấu gạo đỏ mà buộc mình trong ảng lợi danh. Âu là một mái chèo về, nước biếc non xanh vốn chẳng phụ gì ta đâu vậy. Bèn cởi trả ấn tin, bỏ quan mà về. Vốn yêu cảnh hang động ở huyện Tống Sơn, nhận làm nhà tại đấy để ở. Thường dùng một thẳng nhỏ đem một bầu rượu, một cây đàn đi theo, mình thì mang mấy quyển thơ của Đào Uyên Minh, hễ gặp chỗ nào thích ý thì hí hửng ngả rượu ra uống. Phàm những nơi nước tủ non kì như núi Chích Trợ, động Lục Vân, sông Lãi, của Nga, không đâu không từng có những thơ để vịnh. Trích “Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên", Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, NXB Hội Nhà văn, 2018, Thực hiện yêu cầu Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận khoảng 500 chữ trình bày cảm nhận về tâm hồn của Tử Thức và nêu ý kiến về hành động từ quan của nhân vật này Xem chi tiết

một mai một cuốc một cần câu